Nước Mỹ đang sống trong một “Thời đại Mạ vàng” (Gilded Age) mới, khi của cải tập trung vào tay một nhóm rất nhỏ các tỷ phú. Nhưng khác với thế hệ các ông trùm công nghiệp hơn một thế kỷ trước, những người giàu ngày nay hiếm khi dùng tài sản để tạo ra các định chế mới. Họ chủ yếu quyên góp cho những tổ chức vốn đã tồn tại.
Năm 1891, Leland Stanford sở hữu khối tài sản tương đương khoảng 1,9 tỷ USD theo giá trị hiện nay. Ông hoàn toàn có thể tài trợ một tòa nhà tại Harvard hoặc quyên góp cho các bệnh viện đương thời. Thay vào đó, Stanford và vợ dành hơn 8.000 mẫu đất tại Palo Alto để thành lập một trường đại học mang tên người con trai quá cố.
Đó không chỉ là một khoản quyên góp mà là sự khai sinh của cả một định chế. Hơn một thế kỷ sau, Đại học Stanford trở thành trung tâm trí tuệ của Thung lũng Silicon và là một trong những cái nôi của đổi mới công nghệ toàn cầu.
Đó cũng không phải ngoại lệ. Trong Thời đại Mạ vàng đầu tiên (khoảng 1870-1920), những tỷ phú như Andrew Carnegie, John D. Rockefeller, Andrew Mellon hay Johns Hopkins đều dùng tài sản để xây dựng các trường đại học, bệnh viện, thư viện, viện nghiên cứu và bảo tàng – những tổ chức vẫn định hình đời sống Mỹ cho đến ngày nay.
Điều đáng chú ý không phải là quy mô các khoản tiền họ bỏ ra, mà là tham vọng xây dựng những định chế có thể tồn tại hàng thế kỷ.
Một Thời đại Mạ vàng mới
Thuật ngữ “Thời đại Mạ vàng” do Mark Twain và Charles Dudley Warner đặt ra nhằm mô tả một xã hội bề ngoài hào nhoáng nhưng ẩn chứa bất bình đẳng, tham nhũng và xung đột.
Ngày nay, nước Mỹ chứng kiến nhiều điểm tương đồng. Tài sản lại tập trung mạnh vào tầng lớp siêu giàu, đặc biệt là các tỷ phú công nghệ. Ngưỡng để lọt vào danh sách Forbes 400 đã tăng từ mức tương đương khoảng 230 triệu USD (theo giá hiện nay) năm 1982 lên 3,8 tỷ USD năm 2025. Tổng tài sản của 400 người giàu nhất nước Mỹ đạt khoảng 6.600 tỷ USD.
Các trung tâm quyền lực kinh tế cũng dịch chuyển giống như trước đây: nếu thế kỷ XIX là New York, Pittsburgh hay các thành phố đường sắt, thì ngày nay là Thung lũng Silicon, Seattle và các tập đoàn công nghệ khổng lồ.
Thế nhưng có một khác biệt lớn.
Các tỷ phú hiện đại đã xây dựng những doanh nghiệp với quy mô chưa từng có: các nền tảng kết nối hàng tỷ người, mô hình AI có thể tạo văn bản như con người hay tên lửa có thể tự quay về hạ cánh. Nhưng khi chuyển sang hoạt động từ thiện, họ hiếm khi dùng chính năng lực tổ chức ấy để xây dựng các định chế dân sự mới.
Họ biết cách tạo ra những công ty vĩ đại, nhưng ít người xây dựng những tổ chức công cộng có thể tồn tại lâu dài.
Những người xây dựng
Andrew Carnegie là ví dụ điển hình. Sinh ra trong một gia đình nhập cư nghèo người Scotland, Carnegie từng được tiếp cận thư viện miễn phí do một doanh nhân địa phương mở cho công nhân trẻ. Ông tin rằng cơ hội ấy đã thay đổi cuộc đời mình.
Sau khi trở nên giàu có, Carnegie không chỉ tài trợ cho các thư viện có sẵn. Ông xây dựng hơn 2.500 thư viện công cộng trên khắp thế giới nói tiếng Anh, trong đó gần 1.700 thư viện ở Mỹ.
Điều đặc biệt là nhiều thị trấn khi ấy hoàn toàn chưa có thư viện. Carnegie tạo ra cả một mạng lưới hạ tầng tri thức từ con số không, đồng thời yêu cầu chính quyền địa phương cam kết chi trả chi phí vận hành để bảo đảm các thư viện có thể tồn tại lâu dài.
Ông cũng sáng lập Đại học Carnegie Mellon, Viện Khoa học Carnegie, Nhà hát Carnegie Hall và Quỹ Hòa bình Quốc tế Carnegie.
John D. Rockefeller theo đuổi tham vọng tương tự. Ông thành lập Đại học Chicago, Viện Rockefeller về Nghiên cứu Y học (nay là Đại học Rockefeller) và Quỹ Rockefeller. Những tổ chức này sau đó đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu y sinh, phát triển penicillin, Cuộc cách mạng Xanh trong nông nghiệp và nhiều chương trình y tế cộng đồng.
Johns Hopkins để lại khoản tài sản lớn nhất nước Mỹ thời bấy giờ để thành lập đồng thời một trường đại học và một bệnh viện. Bệnh viện Johns Hopkins sau này trở thành hình mẫu cho đào tạo bác sĩ hiện đại.
Andrew Mellon sáng lập Phòng trưng bày Nghệ thuật Quốc gia (National Gallery of Art), không chỉ hiến tặng bộ sưu tập nghệ thuật đồ sộ mà còn xây dựng cả tòa nhà để lưu giữ chúng. Ông còn yêu cầu bảo tàng mang tên quốc gia thay vì tên mình nhằm khuyến khích những nhà sưu tập khác tiếp tục đóng góp mà không phải băn khoăn về việc đánh bóng cho một tên tuổi có sẵn.
Những nhân vật này không phải không gây tranh cãi. Họ kiếm tiền trong một thời kỳ đầy độc quyền, bóc lột lao động và ảnh hưởng chính trị. Hoạt động từ thiện của họ đôi khi cũng phục vụ mục tiêu xây dựng danh tiếng.
Tuy nhiên, bất kể động cơ là gì, họ đã chuyển đổi tài sản cá nhân thành các định chế công cộng có tuổi thọ hàng trăm năm. Đó mới là điểm khác biệt.
Những người viết séc
Phần lớn các tỷ phú ngày nay lựa chọn một con đường khác. Thay vì sáng lập các tổ chức mới, họ chủ yếu quyên góp cho những định chế vốn đã rất giàu có.
Michael Bloomberg tặng 1,8 tỷ USD cho Đại học Johns Hopkins. Kenneth Griffin quyên góp hàng trăm triệu USD cho Harvard. Phil Knight tài trợ 500 triệu USD cho Stanford. Stephen Schwarzman quyên góp cho Yale, MIT và Thư viện Công cộng New York.
Đây đều là những khoản đóng góp hào phóng, nhưng chúng chủ yếu chảy vào các tổ chức đã có lịch sử hàng trăm năm và sở hữu nguồn tài sản khổng lồ.
Harvard có quỹ hiến tặng hơn 50 tỷ USD. Stanford khoảng 36 tỷ USD. MIT khoảng 27 tỷ USD.
Một tòa nhà mang tên nhà tài trợ tại Harvard có thể đem lại danh tiếng, nhưng nó không tạo ra một không gian mới trong đời sống xã hội. Nó giống như xây thêm một căn phòng trong một dinh thự vốn đã có hàng trăm phòng.
Ngược lại, khi Rockefeller thành lập Đại học Chicago, thành phố này chưa có trường đại học nghiên cứu đẳng cấp thế giới. Khi Carnegie xây thư viện, nhiều thị trấn chưa từng có thư viện công cộng. Khi Julius Rosenwald xây hơn 5.300 trường học cho trẻ em da màu tại miền Nam nước Mỹ, hàng triệu học sinh gần như không có cơ hội tiếp cận giáo dục.
Những khoảng trống tương tự vẫn tồn tại ngày nay: chăm sóc sức khỏe ở nông thôn, nhà ở giá phải chăng, sức khỏe tâm thần, đào tạo lực lượng lao động hay hạ tầng dân sự cho thời đại số.
Nhưng dòng tiền từ thiện vẫn chủ yếu đổ vào những định chế lâu đời nhất.
Vì sao điều đó xảy ra?
Một phần câu trả lời nằm ở yếu tố xã hội.
Quyên góp cho Harvard, Stanford hay Bảo tàng Nghệ thuật Metropolitan đem lại địa vị và uy tín rõ ràng. Các tổ chức này có bộ máy gây quỹ chuyên nghiệp, có thể đặt tên tòa nhà, ghế giáo sư hoặc phòng nghiên cứu theo tên nhà tài trợ.
Trong khi đó, xây dựng một định chế mới luôn đi kèm rủi ro. Nó đòi hỏi tầm nhìn dài hạn, năng lực tổ chức và chấp nhận khả năng thất bại.
Các nhà từ thiện thời Gilded Age từng chấp nhận rủi ro ấy. Ngày nay, điều đó hiếm gặp hơn.
Một nguyên nhân khác là sự thay đổi trong triết lý từ thiện.
Hoạt động từ thiện hiện đại ngày càng chịu ảnh hưởng của tư duy “hiệu quả” – ưu tiên các chương trình có thể đo lường bằng những chỉ số cụ thể như số người được cứu sống hay chi phí trên mỗi kết quả đạt được. Cách tiếp cận này đem lại nhiều thành công, đặc biệt trong y tế toàn cầu.
Nhưng những định chế lớn không thể đánh giá bằng các chỉ số ngắn hạn.
Khi Rockefeller thành lập Đại học Chicago, không ai có thể dự đoán những phát minh, công trình nghiên cứu hay các thế hệ lãnh đạo mà trường sẽ đào tạo trong suốt hơn một thế kỷ sau đó. Giá trị của một trường đại học, một thư viện hay một viện nghiên cứu thường chỉ bộc lộ qua nhiều thập kỷ. Chúng tạo ra những tác động lan tỏa mà không một bảng tính nào có thể đo lường đầy đủ.
Bài học cho hiện tại
Nền văn minh không chỉ được xây dựng bằng những khoản tài trợ ngắn hạn. Nó được xây dựng bằng những định chế có khả năng tồn tại lâu hơn người sáng lập.
Các trường đại học, thư viện, bệnh viện, viện nghiên cứu và bảo tàng mà nước Mỹ đang hưởng lợi ngày nay phần lớn đều ra đời trong Thời đại Mạ vàng đầu tiên, khi một thế hệ các nhà tư bản quyết định dùng tài sản để tạo ra những tổ chức mới thay vì chỉ hỗ trợ những tổ chức đã có.
Ngày nay, thế giới sở hữu khối tài sản tư nhân lớn hơn bao giờ hết. Điều còn thiếu không phải là tiền, mà là tham vọng xây dựng những định chế có thể phục vụ lợi ích công cộng trong nhiều thế hệ.
Nếu các tỷ phú hiện đại tiếp tục chỉ viết những tấm séc cho các tổ chức lâu đời, xã hội sẽ nhận được nhiều công trình mới, nhiều học bổng mới và nhiều tòa nhà mới thêm vào những cơ sở vốn đã hiện hữu.
Nhưng điều xã hội cần hơn có lẽ là những định chế mới – những tổ chức có thể định hình cả một thế kỷ tiếp theo, giống như cách các ông trùm Stanford, Carnegie Mellon, Đại học Chicago hay Johns Hopkins đã từng làm.

Đại học Carnegie Mellon do Andrew Carnegie tài trợ thành lập. Ảnh: Đại học Carnegie Mellon

Đại học Rockefeller phát triển từ Viện Rockefeller về Nghiên cứu Y học do tỷ phú John D. Rockefeller sáng lập. Ảnh: Đại học Rockefeller

Bệnh viện Johns Hopkins. Ảnh: The Johns Hopkins University School of Medicine
Related Stories
By Hoàng Sơn (Theo Yahoo Finance)
10 Tháng 7 2026, 07:44
By Hoàng Khang (Theo Space.com)
10 Tháng 7 2026, 07:38
By Hoàng Khang (Theo Universe Today)
10 Tháng 7 2026, 07:31

