Úc đã phê duyệt một khu vực lưu trữ carbon dưới đáy biển gần bờ biển phía bắc, nơi tập đoàn năng lượng Nhật Bản Inpex dự định chôn giữ lượng lớn khí thải carbon bằng công nghệ đang gây tranh cãi trong giới khoa học khí hậu.
Khu vực này được phép lưu trữ tối đa 443 triệu tấn carbon dioxide (CO2). Quyết định phê duyệt trở thành một phần trong cuộc tranh luận toàn cầu về công nghệ thu giữ và lưu trữ carbon (CCS).
Những người ủng hộ cho rằng dự án sẽ góp phần giảm phát thải từ các ngành khó cắt giảm khí thải như sản xuất thép và vận tải biển. Trong khi đó, các ý kiến phản đối cảnh báo dự án có thể gây tổn hại đến môi trường sống quan trọng và các loài động vật hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng, đồng thời kéo dài sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch gây ô nhiễm cao.
CCS là quy trình gồm ba bước: thu giữ, vận chuyển và lưu trữ CO2. Khí này góp phần làm biến đổi khí hậu khi được thải vào khí quyển.
Một số chính phủ và tập đoàn nhiên liệu hóa thạch lớn, trong đó có Exxon Mobil và Shell, thúc đẩy CCS như một giải pháp khí hậu giúp các quốc gia và ngành công nghiệp có thêm thời gian chuyển sang năng lượng sạch hơn.
Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) xem thu giữ, sử dụng và lưu trữ carbon là một công cụ ứng phó biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, trong kịch bản phát thải ròng bằng 0 của cơ quan này, CCS chỉ đóng góp chưa đến 5% tổng mức cắt giảm phát thải vào năm 2050.
Những người phản đối cho rằng công nghệ này có thể làm chậm tiến độ của các nỗ lực cắt giảm khí thải toàn cầu vốn đang không đạt mục tiêu, đồng thời cho phép các nhà máy điện và cơ sở công nghiệp tiếp tục đốt nhiên liệu hóa thạch với cam kết sẽ thu giữ khí thải sau đó.
Dù còn tranh cãi, các dự án CCS vẫn đang được triển khai. Mỹ hiện có một số cơ sở đi vào hoạt động, trong khi cơ sở lưu trữ carbon ngoài khơi đầu tiên của Liên minh châu Âu khai trương hồi tháng 9.
Dự án tại Úc do Inpex, tập đoàn năng lượng Nhật Bản, dẫn dắt. Công ty đang tiến hành đánh giá tác động môi trường và phải xin thêm các giấy phép của chính phủ trước khi có quyết định cuối cùng cũng như bắt đầu bơm CO2 xuống lòng đất.
Dự án dự kiến khởi đầu tại Darwin, thủ phủ Vùng lãnh thổ Bắc Úc, bên bờ biển Timor, sau đó mở rộng ra khu vực cách bờ 260 km. CO2 sẽ được bơm vào một tầng chứa nước mặn sâu dưới lòng đất có tên West Peron.
Theo Inpex, khách hàng chính của dự án sẽ là cơ sở sản xuất khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) Ichthys gần đó. Inpex sở hữu phần lớn cổ phần tại cơ sở này, nơi xuất khẩu phần lớn sản lượng khí sang Nhật Bản.
Các công ty khác cũng có thể sử dụng khu vực này để lưu trữ CO2 trong tương lai. Inpex cho biết địa điểm có khả năng lưu trữ vĩnh viễn tối đa 443 triệu tấn CO2 trong thời gian 35 năm.
Bộ trưởng Tài nguyên Úc Madeleine King nhận định việc phê duyệt khu vực lưu trữ là bước tiến quan trọng, thể hiện sự ủng hộ của chính phủ đối với các công nghệ giúp giảm phát thải.
“Thu giữ và lưu trữ carbon sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc giảm phát thải từ những ngành khó cắt giảm khí thải, qua đó hỗ trợ quá trình chuyển đổi của Úc hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng 0,” bà King nói trong một tuyên bố.
Các tổ chức môi trường lo ngại dự án sẽ tác động đến hệ sinh thái biển, ven biển và trên đất liền. Khu vực này chồng lấn với môi trường sống của nhiều loài bị đe dọa và các loài di cư, trong đó có bò biển, rùa biển và chim biển.
Chelsea Deng, chuyên gia vận động chính sách của Hiệp hội Bảo tồn Biển Úc, cho rằng quá trình xây dựng dự án sẽ gây xáo trộn lớn cho các hệ sinh thái này.
“Phần lớn hoạt động liên quan đến nạo vét, khoan và đóng cọc xuống đáy biển. Những việc này làm xáo trộn trầm tích, gây ô nhiễm chất lượng nước do xả thải hóa chất và tạo ra nhiều tiếng ồn dưới nước,” bà nói.
Theo bà Deng, khi dự án đi vào hoạt động, mật độ tàu thuyền trong khu vực sẽ tăng, gây thêm xáo trộn. Các đợt khảo sát dưới nước định kỳ mà công ty tiến hành để kiểm tra rò rỉ cũng sẽ tiếp tục gây tổn hại hệ sinh thái.
“Hoạt động này gây tác động rất lớn, đặc biệt đối với cá voi, nhưng cũng có thể ảnh hưởng tiêu cực đến nhiều sinh vật khác, kể cả sinh vật phù du. Các nghiên cứu cho thấy sinh vật phù du có thể chết ở khoảng cách tới 1,2 km tính từ nơi phát ra các xung địa chấn,” bà nói. “Hoạt động này sẽ kéo dài hàng chục năm trong suốt thời gian dự án vận hành, bởi công ty phải liên tục theo dõi CO2 được bơm xuống lòng đất.”
Nhật Bản, một trong những quốc gia phát thải lớn nhất thế giới, đặt mục tiêu giảm 60% lượng khí thải carbon vào năm 2035 và 73% vào năm 2040, so với mức năm 2013.
Tuy nhiên, các ngành công nghiệp phát thải cao như sản xuất thép, xi măng, lọc dầu và vận tải biển vẫn giữ vai trò quan trọng đối với nền kinh tế Nhật Bản. Phần lớn năng lượng của nước này vẫn đến từ nhiên liệu hóa thạch.
Để thu hẹp khoảng cách giữa mục tiêu khí hậu và thực tế, chính phủ Nhật Bản cho rằng CCS là công nghệ không thể thiếu.
“Công nghệ này cho phép giảm phát thải carbon ở những lĩnh vực khó chuyển sang các giải pháp thay thế nhiên liệu hóa thạch, chẳng hạn điện khí hóa hoặc sử dụng hydro. Vì vậy, CCS trở thành yếu tố không thể thiếu để đồng thời bảo đảm nguồn cung năng lượng ổn định, tăng trưởng kinh tế và giảm phát thải carbon,” Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản viết trong tài liệu công bố năm 2025.
Các doanh nghiệp Nhật Bản đang triển khai những dự án CCS khác. Ngoài khơi tỉnh Chiba, nơi môn lướt sóng lần đầu xuất hiện tại Olympic trong Thế vận hội Tokyo, một giàn khoan lớn nhô lên khỏi mặt nước, đánh dấu địa điểm đang tiến hành khoan thăm dò cho dự án CCS khu vực đô thị Tokyo. Đây là dự án hợp tác giữa Inpex, Nippon Steel và một số doanh nghiệp khác, nhằm thu giữ CO2 từ các nhà máy thép rồi lưu trữ dưới đáy biển.
Một công ty Nhật Bản khác cũng lên kế hoạch vận chuyển khí thải carbon sang Malaysia để lưu trữ.
Các nhà hoạt động môi trường cảnh báo việc mở rộng CCS sẽ kéo dài thời gian sử dụng nhiên liệu hóa thạch gây ô nhiễm cao.
“Chúng tôi xem đây là một chiêu thức tẩy xanh mà các công ty nhiên liệu hóa thạch sử dụng để hợp thức hóa việc tiếp tục gây ô nhiễm, thay vì lựa chọn rõ ràng hơn là giảm sản lượng và từng bước loại bỏ nhiên liệu hóa thạch,” bà Deng nói.

Một người lướt sóng đi dọc bãi biển Kujukuri-hama, phía sau là địa điểm khoan thăm dò thuộc Dự án CCS khu vực đô thị Tokyo, tại Kujukuri, tỉnh Chiba, Nhật Bản. Ảnh: AP

