×
  • Chia sẻicon-down
  • Chuyện làm ănicon-down
  • Thể thaoicon-down
  • Văn hóa - Đời sốngicon-down
  • Khácicon-down
  • “Nhà nước không hỗ trợ, doanh nghiệp dệt may sẽ phá sản rất nhanh”

    Giá nhân công cao, thuế vào thị trường Mỹ lớn, VND vẫn giữ giá... khiến doanh nghiệp dệt may gặp khó. Nhà nhập khẩu thường xuyên đòi giảm giá 10 - 20%, đơn hàng mất vào tay các đối thủ. Doanh nghiệp dệt may phải giảm thời gian làm việc và lương của công nhân.

    Giá vốn dệt may Việt Nam đang cao hơn so với các đối thủ, đơn hàng mất liên tục, ông Nguyễn Xuân Dương, Chủ tịch HĐQT Tổng Công ty may Hưng Yên (UPCoM: HUG), đồng thời là Phó Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam có cuộc trao đổi với Người Đồng Hành xung quanh vấn đề này.

    xuan-duong98-9681-1567304314.jpg
    Ông Nguyễn Xuân Dương, Chủ tịch HĐQT Tổng Công ty may Hưng Yên.

    - Thời gian vừa qua, nhiều thông tin đơn hàng dệt may đang giảm, các nhà nhập khẩu Mỹ trì hoãn nhập hàng Việt Nam, tình trạng đó hiện nay như thế nào thưa ông?

    - Thiếu hàng là tình trạng chung của hầu hết doanh nghiệp dệt may hiện nay. Chúng tôi đang phải hạ giá để giữ hàng. Vào thời điểm tháng 8, như mọi năm các đơn hàng đã được ký kết cho hết tháng 10 và chuẩn bị để gối cho năm sau. Nhưng năm nay, hàng tháng 9 còn chưa đủ, tháng 10 vẫn thiếu.

    Đối tác thường xuyên đòi giảm giá 10 - 20%. Năm ngoái, một cái áo có giá gia công 4 USD thì năm nay đối tác đòi hỏi chỉ còn 3,5 USD, doanh nghiệp làm không được thì thôi. Nhiều khi chúng ta đồng ý giá 3,5 USD, đối tác cũng không ký vì có nơi khác giá còn rẻ hơn.

    Thời điểm này chúng tôi chưa có thống kê cụ thể vì vẫn đang tiếp tục đàm phán giữ đơn hàng nhưng giá trị chắc chắn giảm xuống. 6 tháng đầu năm nay, giá gia công dệt may chưa bị ảnh hưởng trực tiếp nhưng 6 tháng cuối năm chắc chắn sẽ giảm.

    Dù vậy, không còn con đường nào khác là phải lôi kéo hàng, rẻ cũng phải làm. Trong nước còn ít vài tồn tiết kiệm phải làm bán ra để giữ chân người lao động nhưng lương chắc chắn sẽ phải trả ít đi. Tổng công ty tôi với 60% hàng hóa sang thị trường Mỹ hiện có 15.000 lao động trong số 5 triệu người của ngành dệt may. Trước đây, một ngày làm 8 tiếng giờ chi đủ việc làm khoảng 6 tiếng thôi. Nếu không có hàng khi tình trạng này tiếp diễn, có thể doanh nghiệp phải tính đến bài toán cho người lao động và hưởng 70% theo mức lương tối thiểu.

    - Nguyên nhân của tình trạng giảm đơn hàng là gì thưa ông?

    - Đặc điểm trong ngành may mặc hiện nay là 90% hàng hóa gia công theo đơn đặt hàng. Nhà nhập khẩu sẽ chọn khu vực có giá nhân công thấp nhất và thuế vào thị trường Mỹ thấp để đặt. Hai lợi thế về giá nhân công và thuế của Việt Nam hiện không bằng các nước khác.

    Lương của người lao động trong ngành dệt may của Việt Nam bình quân 300 - 400 USD/tháng, cao gấp 3 - 4 lần lương ở Ấn Độ, Bangladesh - chỉ ở khoảng 100 USD/tháng. Điều này dẫn đến trình trạng giá gia công của Việt Nam phải đòi giá gia công cao hơn mới có thể đủ trả tiền lương cho người lao động.

    Sau thời gian ngắn chúng ta có lợi thế cạnh tranh, hiện nay Ấn Độ cũng hướng sang xuất khẩu, Bangladesh hỗ trợ cho cho doanh nghiệp may, hiện đại hóa bằng cách đưa nhiều máy móc vào tăng năng suất lao động. Đây là 2 nước cạnh tranh rất khốc liệt với ngành may Việt Nam.

    Thời gian vừa rồi hầu như các lô lớn các hàng dễ như sơ mi, quần tây, T-shirt, dệt kim đều bị nhà nhập rút đơn hàng chuyển sang 2 cái thị trường này. So với mùa năm ngoái, đơn hàng tại Việt Nam giảm 10%, thậm chí có hàng giảm 20%.

    Thứ 2 là cạnh tranh về thuế. Tất cả đơn hàng vào Mỹ của Việt Nam thuế bình quân khoảng 17%. Trong khi thuế của Bangladesh, Ấn Độ vào Mỹ rất là thấp, thậm chí có những mặt hàng 0%. Thuế bình quân của 2 đói thủ này đều dưới 10% cả. Thậm chí thuế vào châu Âu của 2 nước bằng 0 từ lâu rồi. Việt Nam không cạnh tranh được cả về thuế quan.

    Thứ 3, trong suốt thời gian này các đối thủ đều hạ giá đồng so với USD. Trong khi Việt Nam chỉ giảm giá VND chưa đến 2%/năm. Tiền chúng ta không hạ giá thì hàng chúng ta thành ra đắt hơn so với hàng của các nước. Họ vẫn có thể nhận được hàng như thế nhưng vì đồng tiền họ giá thấp hơn nên hàng họ rẻ.

    Đây là 3 nguy cơ dẫn tới doanh nghiệp Việt Nam không cạnh tranh được với các nước. Nếu không sớm điều chỉnh Việt Nam sẽ mất hết các đơn hàng.

    - Câu chuyện thuế hay lao động những năm trước cũng có tại sao năm nay mới bị ảnh hưởng?

    - Năm nay do cạnh tranh thương mại Mỹ - Trung các nước khác đồng loạt hạ giá đồng tiền xuống. Những năm trước các nước khác chưa có định hướng xuất khẩu lớn. Ấn Độ trong 2 năm nay tăng cường xuất khẩu, Bangladesh năm 2018 cải cách ngành may với việc mạnh dạn xóa bỏ những doanh nghiệp nhỏ, tập trung đầu tư cho doanh nghiệp lớn với thiết bị tiên tiến để cạnh tranh.

    Đây là những điểm nóng mà các doanh nghiệp hút hàng vào nước của họ. Cuối cùng Việt Nam không thay đổi kịp vì nguyên liệu trong nước không có, đồng tiền vẫn tiếp tục neo giá, giá nhân công thì đẩy lên cao. Thời điểm này đỉnh điểm của việc sẽ mất hàng.

    - Ở Mỹ gặp khó, vậy doanh nghiệp có tính mở rộng sang các thị trường khác như EU thưa ông khi Việt Nam vừa có một một số hiệp định thương mại được kỳ vọng như EVFTA?

    - Mở rộng thị trường sang EU cũng không được bao nhiêu cả. Cùng một chiếc bánh thị phần, Bangladesh và các nước khác đang xuất khẩu vào EU rất lớn từ trước. Để có thể chiếm được thị phần, giá hàng hóa của Việt Nam phải thấp hơn song điều này khó. Để có thể hưởng thuế tư EU theo hiệp định EVFTA, Việt Nam phải chủ động được nguồn nguyên vật liệu thay vì nhập khẩu 45% từ Trung Quốc như hiện nay. Nếu không, không có cớ gì để mở rộng thị trường. Việc mở rộng thị trường chỉ là định hướng sắp tới khi Việt Nam thay đổi được cơ cấu nguyên phụ liệu

    - Giá vốn của Việt Nam đang đắt lên như vậy, chúng ta có thể điều chỉnh bằng cách nào thưa ông?

    - Trong khi các nước có động thái giảm giá đồng tiền, Việt Nam vẫn giữ khư khư giá đó trong nhiều tháng qua biên độ giảm rất nhẹ. Nếu không hạ giá hàng hóa của chúng ta sẽ trở thành đắt, thậm chí Việt Nam trở thành nơi tiêu thụ hàng hóa nước ngoài trong khi hàng may mặc của Việt Nam không bán được. Hiện lãi suất ngân hàng của Việt Nam cũng cao, nễu không có định hướng hỗ trợ thì rất khó cho các doanh nghiệp xuất khẩu, nhất là ngành dệt may đang sử dụng đến 5-6 triệu lao động.

    Hiện nay thuế của Mỹ đánh đối với hàng dệt may của Việt Nam là 17% cao hơn nhiều so với các đối thủ cạnh tranh, thậm chí đối thủ mới nổi Campuchia đang được hưởng thuế 0%. Nếu không có chính sách phù hợp về ngoại thương, doanh nghiệp dệt may sẽ rất khó để cạnh tranh.

    - Doanh nghiệp dệt may đang làm gì để cải thiện tình trạng này thưa ông?

    - Chúng tôi xác định thà ăn cháo còn hơn nhịn đói. Đã đầu tư rồi doanh nghiệp đành chấp nhận hạ giá để giữ được hàng, giữ công ăn việc làm cho người lao động. Trước mắt, trong khi chờ đồng tiền hạ giá, doanh nghiệp chấp nhận đơn hàng với giá rẻ hơn. Trước đây ký hợp đồng gia công 1 USD, giờ ký 95 xu, đồng tiền giảm giá 5% thì 95 xu ấy vẫn có giá trị tương đương khi quy đổi ra tiền Việt. Trước mắt chỉ có cách hạ giá đồng tiền. Hạ giá đồng tiền là việc trước mắt cần làm nhưng trong dài hạn không phải là cách bền vững.

    Hiện nay chỉ có doanh nghiệp có tiềm lực về tài chính, có thể co kéo trong vòng 1 - 2 năm nữa nghe ngóng tình hình mới có thể sống được, các doanh nghiệp nhỏ sẽ chết. Trong tổng công ty của chúng tôi 15 đơn vị phải hỗ trợ cho nhau, đơn vị nọ bù đắp cho đơn vị kia. Các doanh nghiệp liên kết thành nhóm, hỗ trợ nhau sẽ giải quyết được phần nào.

    Nhiều doanh nghiệp phải tìm hướng đi khác như cho chủ đầu tư Hàn Quốc, Trung Quốc thuê nhà xưởng, nhân công. Ở Hưng Yên, thời gian qua có tới 4, 5 cơ sở cho thuê không sản xuất nữa. Tuy nhiên, điều này cũng tiềm ẩn rủi ro nhà đầu tư nước ngoài thuê cơ sở sẵn sàng bỏ đi “xù lương” của người lao động không trả.

    Trong dài hạn, doanh nghiệp Việt Nam phải tăng năng suất lao động đồng thời với hạ giá đồng tiền để cải thiện tình trạng giá vốn cao hiện nay. Trong trường hợp năng suất không tăng, Nhà nước không hỗ trợ, con đường phá sản của các doanh nghiệp dệt may sẽ rất nhanh.